Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

GIỚI THIỆU TUYỂN TẬP - THƠ CAO BỒI GIÀ (CHỈNH SỬA)


Xin thưa cùng Quý vị độc giả,

   Tuyển tập  THƠ CAO BỒI GIÀ đã được tác giả xuất bản vào năm 2011.Nay xin được  chỉnh sửa và tái đăng lần lượt toàn bản tuyển tập gồm 266 bài được chia ra 3 phần : Tổng Hợp - Trào Phúng - và Xướng họa. Mời Quý vị độc giả thưởng thức cùng cho nhận xét. Thành thật cảm ơn .Chúc Quý vị có những phút giây thư thái giải trí với những vần thơ mộc mạc của Cao Bồi Già.

 

LỜI MỞ ĐẦU  

          ĐÔI NÉT VỀ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ

 

 

   Thưa quý độc giả

   Hầu hết trong tập thơ này là thể loại Thất Ngôn Bát cú (Thơ Đường), một thể loại thơ cổ nên chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về thể thơ này để quý vị thú vị hơn khi đọc từng vần thơ

   Thất Ngôn Bát Cú là thể thơ thông dụng và được yêu chuộng nhất trong các thể loại thơ Đường

   Cơ Bản như sau :

_BỐ CỤC :

   Một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ được chia ra  làm 4  phần:

  1- Mạo: là mào đầu (vào bài) còn gọi là Đề, gồm:

- Phá đề (câu 1) nghĩa là mở ra, giới thiệu tựa đề.

- Thừa đề (câu 2) nghĩa là chuyển xuống.

 

2- Thực hay Trạng: gồm câu 3 + 4: giải thích, khai triển tựa đề.

 

3- Luận: gồm câu 5+6: bàn luận ý nghĩa của bài.

 

4- Kết: gồm câu 7+8: tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ tình cảm, thái độ.

 

_NIÊM LUẬT CỦA THẤT NGÔN BÁT CÚ

A)_KHÁI NIỆM :

   Thanh âm Việt ngữ chia thành 2 loại vần: TRẮC và BẰNG

_VẦN BẰNG: là các từ mang dấu huyền và không dấu

_VẦN TRẮC : là các từ mang dấu sắc ,hỏi,ngã, nặng

_VẦN CỦA CÂU : Trong TNBC mỗi câu có 7 chữ. Chữ thứ hai của mỗi câu là khóa vần của câu ( có thể ví như khóa sol,khóa Fa trong âm nhạc vậy)

Thí Dụ :Bước tới đèo Ngang,bóng xế tà(câu này vần trắc căn cứ vào chữ tới )

   Ao thu lạnh lẽo nước trong veo ( Câu này vần bằng )

B)_NIÊM :

   Niêm có nghĩa là dán.

…Câu 1 phải niêm với câu 8, có nghĩa là nếu câu 1 có vần của câu là bằng thì vần của câu 8 cũng phải là bằng; ngược lại nếu là trắc thì đều phải là trắc

…Câu 2 niêm với câu 3

…Câu 4 niêm với câu 5

…Câu  6 niêm với câu 7

Thí Dụ :

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng( Thương Vợ- Tú Xương)

 

Ta thấy câu 2 niêm với câu 3 đều có vần câu là trắc

   Nếu một bài thơ mà không giữ đúng luật này thì gọi là Thất Niêm

 

 

 

C)_LUẬT VẦN :

   Trong một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú mỗi từ đều phải tuân theo luật vần đã được qui định bắt buộc .

   Có 2 bộ Luật Vần : BẰNG và TRẮC căn cứ vào vần của câu đầu bài thơ

I…VẦN BẰNG

  Câu 1: BBTTTBB

 Câu 2: TTBBTTB

 Câu 3: TTBBBTT

 Câu 4: BBTTTBB

 Câu 5: BBTTBBT

 Câu 6: TTBBTTB

 Câu 7: TTBBBTT

 Câu 8: BBTTTBB

 

Thí Dụ :

            THU ĐIẾU

     Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

     Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

     Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

     Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

     Tầng mây lơ lửng ,trời xanh ngắt

     Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo

     Tựa gối buông cần lâu chẳng được

     Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

        NGUYỄN KHUYẾN

 

II…VẦN TRẮC :

  Câu 1: TTBBTTB

 Câu 2: BBTTTBB

 Câu 3: BBTTBBT

 Câu 4: TTBBTTB

 Câu 5: TTBBBTT

 Câu 6: BBTTTBB

 Câu 7: BBTTBBT

 Câu 8: TTBBTTB

Thí Dụ :

            BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ

     Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,

     Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

     Ao sâu nước cả, khôn chài cá,

     Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

     Cải chửa ra cây, cà mới nụ,

     Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

     Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

     Bác đến chơi đây, ta với ta !

             NGUYỄN KHUYẾN

   Nếu chữ nào quy định là bằng mà lại đặt là trắc, hay quy định là trắc mà lại đặt là bằng thì gọi là thất luật.

 

Tuy nhiên ta có thể áp dụng nguyên tắc :”Nhất ,tam,ngũ bất luận “ tức là chữ thứ  nhất, thứ ba , thứ năm của mỗi câu có thể tự do miễn là không tạo lỗi khi ngâm đọc.

D)_LUẬT VẬN :

   Các chữ cuối các câu 1,2,4,6,8 phải vần với nhau

Thí dụ: Trong bài Thu Điếu là các từ: veo,teo,vèo, teo,bèo. Đây là các từ chính vận

Đôi khi người ta có thể dùng “Thông vận “ cũng được như : vui có thể thông vận với đời, ôi,soi…

Nếu bài thơ không giữ được điều này thì gọi là Thất Vận

E)_LUẬT ĐỐI :

   Đây là điều thú vị và khó nhất của TNBC :2 câu Thực là cặp câu đối; 2 câu Luận cũng vậy

Đối phải đối ý, đối từ(Danh từ đối danh từ,động từ đối động từ…), đối thanh, đối hình, đối láy, đối điệp…

Nếu bài thơ đối không chuẩn thì gọi là Thất Đối , đây là bệnh nặng nhất của TNBC

Thí dụ một số câu đối điển hình:

Thi sĩ Hồ Xuân Hương

 - Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe

 Giọng hi, giọng hỉ, giọng hi ha

 (Sư Hổ Mang)

 - Gió giật sườn non kêu lắc cắc

 Sóng dồn mặt nước vỗ long bong

 (Kẽm Trống)

 

MỘT SỐ LUẬT KHÁC :

_F)_TIẾT NHỊP :

   Một câu thường được ngắt nhịp như sau :2-2-3

Nếu viết không theo luật này thì bài thơ sẽ hỏng khi ngâm đọc

G)_HẠC TẤT,PHONG YÊU :

   Có nghĩa là Gối Hạc, Lưng ONG

Lỗi Hạc tất khi  chữ thứ 4 trong một câu cùng dấu với chữ thứ 7 câu đó

Lỗi Phong yêu khi chữ thứ 2 cùng dấu với chữ thứ 7 câu đó

Tuy nhiên đây được xem như bệnh ngoài da, có thể châm chước, trừ một số trường hợp đọc lên không ổn thì hỏng bài thơ

H)_KHỔ ĐỘC :

        Trong bài thất ngôn, chữ thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ, đáng là bằng mà đổi ra trắc gọi là khổ độc (nghĩa là khó đọc). Trong 1 câu

 

I)_NGHỆ THUẬT XƯỚNG HỌA :

Xướng họa thơ đường là thú thanh tao đầy cảm hứng và nghệ thuật

Bài họa là một bài thơ TNBC hoàn chỉnh phải tuân theo tất cả niêm luật  có chủ đề theo bài xướng ) đồng ý, phản bác hoặc mở rộng ý của bài xướng )

Ngoài ra bài họa còn phải giữ nguyên 5 từ cước  vận ( chữ cuối các câu 1,2,4,6,8)

Năm từ cước vận có thể giữ nguyên vị trí hoặc đổi vị trí theo thứ tự ngược lại( gọi là đảo vận), cũng có thể đổi chỗ tùy thích (gọi là hoán vận )

Ngoài ra bài họa còn phải tuân thủ luật Khắc Lục

KHẮC LỤC :

Các chữ thứ 6 của các câu 1,2,4,6,8 của bài họa không được lập lại các chữ thứ 6 của các câu 1,2,4,6,8 của bài xướng.

 

   Thí dụ :

            TÔN PHU NHÂN QUI THỤC

            Bài xướng của Tôn Thọ Tường:

 

     Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng

     Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông

     Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc

     Về Hán trau tria mảnh má hồng

     Son phấn thà cam dày gió bụi

     Đá vàng chi để thẹn non sông

     Ai về nhắn với Châu Công Cẩn

     Thà mất lòng anh được bụng chồng

 

            Bài họa của Phan Văn Trị:

 

     Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng

     Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông

     Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng

     Duyên về đất Thục đượm màu hồng

     Hai vai tơ tóc bền trời đất

     Một gánh cương thường nặng núi sông

     Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết

     Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng

 

   Chúc quý vị có những phút thú vị với tập sách nhỏ này

   Chân thành cảm ơn quý vị

                        CAO BỒI GIÀ

   http://thocaoboigia.blogspot.com

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

quanghuyvu.cbg@gmail.com